Tìm kiếm

Cách bón phân và cách tưới cho lan


CON ĐƯỜNG HẤP THU NƯỚC, DINH DƯỠNG:
Lan nói riêng và thực vật nói chung hút nước, dinh dưỡng qua hai con đường chính : "QUA RỄ" và "QUA LÁ"
Lưu ý cây lấy nước chủ yếu là từ rễ.
► 1- NHỜ BỘ RỄ:
Cấu tạo của rễ gồm: tế bào lông hút nằm ở biểu bì rễ, vỏ, nội bì và trung trụ( mạch gỗ)
 Không phải toàn bộ các phần của rễ đều hút dinh dưỡng mà là nhờ miền lông hút rất nhỏ trên rễ tơ. Từ một rễ cái, bộ rễ được phân nhánh rất nhiều cấp, nhờ vậy tổng cộng diện tích hút dinh dưỡng từ đất của cây rất lớn. Rễ hút nước trong đất và một số nguyên tố hòa tan trong dung dịch đất như: đạm, lân, kali, lưu huỳnh, magiê, canxi và các nguyên tố vi lượng khác, bộ rễ là cơ quan chính lấy thức ăn cho cây.
 Nước đối với cây có 2 tác dụng, là làm mát cho cây và vận chuyển dinh dưỡng. Trong quá trình tưới, muối khoáng sẽ hòa vào nước và được cây hút lên qua rễ cây nhờ lực mao dẫn, khi giá thể khô thì cây không hút được dinh dưỡng, hấp thụ 1 phần rất nhỏ qua không khí và hấp thụ qua lá, tổng hợp glucozo C6H12O6 trong quá trình quang hợp.
 Và tùy vào nhu cầu của cây mà các khí khổng trên lá sẽ mở/đóng để thoát nước/ngưng thoát nước nhằm làm mát và tạo lực hút nước từ rễ lên.
Lưu ý là cây quang hợp thì qua lá sử dụng CO2 nhả O2, còn rễ cây thì buổi tối hô hấp cần O2 (Tỉ lệ ít hơn). Oxy cũng làm giảm các vi khuẩn yếm khí có hại, tăng lượng vi khuẩn hiếu khí.
► 2- NHỜ BỘ LÁ:
Bộ lá và các bộ phận khác trên mặt đất, kể cả vỏ cây cũng có thể hấp thu trực tiếp các dưỡng chất. Ở trên lá có rất nhiều lỗ nhỏ(khí khổng). Khí khổng là nơi hấp thụ các chất dinh dưỡng bằng con đường phun qua lá. Khi dùng phân bón lá phải theo đặc điểm loại cây và đúng hướng dẫn thì lá cây mới hấp thụ cao được.
Cây trồng cũng như tất cả các cơ thể sống bình thường khác đều cần thức ăn cho sự sinh trưởng, phát triển. Cây trồng sinh trưởng và phát triển được là nhờ hút chất khoáng từ đất và phân bón, thực hiện quá trình quang hợp từ nước và cácboníc dưới tác động của ánh sáng mặt trời.
█ CHƯƠNG II. CẤU TẠO RỄ LAN VÀ PHÂN LOẠI 4 NHÓM RỄ:
► 1. CẤU TẠO RỄ LAN:
Đầu rễ có nhiệm vụ hút nước và chất bổ dưỡng để nuôi cây. Nếu vật liệu nuôi trồng khô ráo, rễ sẽ mọc dài ra để tìm nước. Trái lại lúc nào cũng có sẵn nước ở bên, rễ sẽ không mọc thêm ra.
Phân tích cho kỹ rễ chia ra làm 5 phần: lõi rễ, thân rễ, vỏ rễ, lông rễ và đầu rễ.
Nếu tình trạng sũng nước kéo dài ngày này qua ngày khác, rễ sẽ bị thối. Rễ bị thối không có gì để hút nước, lá cũng có thể thấm nước nhưng không đủ để nuôi cây cho nên lá bị nhăn nheo, thân, bẹ cây bị tóp lại. Chúng ta cũng đừng nhầm lẫn giữa thối rễ và tưới không đủ nước. Nếu tưới không đủ, cây sẽ bị cằn cỗi và không tăng trưởng đúng mức. Những loại lan có lá dài và mềm như Oncidium, Brassia hay Odontoglossum... khi thiếu nước lá sẽ có triệu chứng chun xếp lại.
• Bón phân pha quá đậm hoặc quá nhiều sẽ làm cho cháy đầu rễ
• Đầu rễ lan thui ngừng phát triển thì không bón phân mà cần kích rễ tất nhiên là cần phù hợp với chu kỳ sinh trưởng của lan.
• Đừng để quá lạnh, dưới 10°C rễ sẽ không mọc.
• Đừng để quá nóng, trên 37,8°C rễ lan khó mọc.
► 2. PHÂN LOẠI 4 NHÓM RỄ
Khi muốn chăm 1 loài lan thì ta phải hiểu khí hậu của vùng xuất xứ loài lan ấy, đặc điểm sinh trưởng loài lan đó.
Đồng thời cần biết được sự tương quan giữa rễ với giá thể và cách trồng cây lan để chúng ta trồng chúng cho phù hợp với từng nhóm.
Như vậy phải khảo sát thêm cách sinh sống của cây lan đó để chọn chất liệu trồng, cách trồng cho phù hợp. Căn cứ vào cách sinh sống của lan ta có thể chia ra làm 4 nhóm: (Lưu ý rễ lan cần thông thoáng để hô hấp, 4 nhóm rễ có nhu cầu về không khí khác nhau)
● 2.1. NHÓM ĐỊA
Nhóm này gồm các loại lan có củ mập ở dưới mặt đất (Spathoglottis Plicata ...), có bộ rễ ăn sâu xuống đất, dễ trồng nhất, chất trồng chính là đất trôn với rơm rác, tro trấu, phân chuồng, tưới nước ít, cây có thể ra hoa quanh năm, nhất là vào mùa mưa.
● 2.2. NHÓM BÁN ĐỊA
Nhóm này có thể có củ hoặc không có củ, hệ thống rễ ăn xuống đất hoặc bám ở các nơi có lá cây mục, phân mùn, gốc cây, như lan Kiếm Cymbidium, Lan hài Paphiopedilum, Lan bầu rượu Calanthe vv... Khi trồng, chỉ cần cho phần rễ ăn xuống đất phân, còn phần thân và củ, nếu có, phải ở trên mặt đất. Gía thể phải tơi xốp hơn so với địa lan, có thể là lá mục, than vụn, xơ dừa, tro trấu, phân chuồn đã hoai vv... Có loại qua mùa khô, lá rụng hết như lan bầu rượu, đến mùa mưa thì lại ra lá, ra hoa. Có loại không rụng lá như Lan hài, Lan gấm, Lan kiếm, nhưng chỉ ra hoa theo mùa, thường vào đầu mùa mưa.
2.3. NHÓM RỄ GIÓ (Có thể không cần giá thể nếu độ ẩm tiểu khí hậu cao)
Loại này có khả năng hút dưỡng chất trong hơi nước, trong không khí và các chất bụi gỗ, lá mục ở thân cây. Rễ cũng quan hợp được với ánh nắng, nên thường chìa ra ngoài và thích thông thoáng. Đó là lan Ngọc điểm, Vanda, Bò cạp v.v... Vì vậy, khi trồng phải để giá thể thật thông thoáng, để than to, chậu có lổ to hoặc trong giỏ gỗ hay ghép vào khúc cây là tốt nhất.
2.4. NHÓM BÁN RỄ GIÓ
Loại này có rễ nhỏ, nhưng rất nhiều, bám vào bề mặt của chậu, của giá thể, như Hoàng lan Dendrobium, Vũ nữ Oncidium, Cát lan Cattleya vv... Trồng với giá thể thoáng, than dớn chậu cũng phải có nhiều lỗ để rễ bò ra hoặc ghép vào khúc gỗ với một ít xơ dừa.
Như vậy, loài lan có 4 nhóm: Lan đất hay địa lan, Bán địa lan, Phong lan rễ gió, và lan bán rễ gió. Biết được sự tương quan giữa rễ với giá thể và cách trông cây lan để chúng ta trồng chúng cho phù hợp với từng nhóm (NGLam)
█ CHƯƠNG III. CÁC CHẤT DINH DƯỠNG
► GIỚI THIỆU ĐA, TRUNG, VI LƯỢNG NPK + TE
Trong thành phần của cây trồng có mặt hầu hết các chất hoá học tự nhiên (khoảng 92 nguyên tố), nhưng chỉ có 16 nguyên tố thiết yếu với cây trồng, trong đó có 13 nguyên tố khoáng. Đạm , Lân(P), Kali(K) được cây trồng hút/lấy đi với số lượng lớn được gọi là Nguyên tố đa lượng. Canxi(Ca), Magiê(Mg), Lưu Huỳnh (S) được cây trồng hút/lấy đi với số lượng ít hơn nhưng cũng đáng kể nên được gọi là Nguyên tố trung lượng. Sắt(Fe), Kẽm(Zn), Mangan(Mn), Đồng(Cu), Bo(B), Molypden (Mo), Clor(Cl) được cây trồng hút/lấy đi với số lượng khá ít nên được gọi là Nguyên tố vi lượng.
- Đa lượng: Đạm(N), Lân(P), Kali(K).
-Trung lượng: Canxi(Ca), Lưu Huỳnh(S), Ma-nhê(Mg), Si…
-Vi Lượng: Sắt(Fe), Kẽm(Zn), Mangan(Mn), Bo(B), Đồng(Cu), Molypden(Mo), Clo(Cl),
Tại Việt Nam NPK + TE có thể được hiểu là Phân đa, trung, vi lượng
TE (Trace element) = ME (Micro elements) là Nguyên tố trung, vi lượng.
Trên bao bì của phân NPK thường có 3 số chính. Số đầu nhằm chỉ hàm lượng Đạm, quy ra % Nitơ  nguyên chất. Số thứ 2 nhằm chỉ hàm lượng Lân, quy ra % oxyt phospho (P2O5). Số thứ 3 nhằm chỉ hàm lượng Kali, quy ra % oxyt kali (K2O). Ngoài ra, có thể một số bao bì còn ghi thêm một số chất khác như Lưu Huỳnh, Canxi, Magie v.v.. Đối với Lưu Huỳnh thường được tính bằng % lưu huỳnh nguyên chất (S), Canxi được tính bằng % oxyt canxi (CaO), Magie được tính bằng % oxyt magie (MgO).
Tuy nhiên, phân NPK chỉ là phân định một các tương đối và không chính xác. Bởi vì cây trồng luôn cần có đầy đủ cả 3 nguyên tố này và các nguyên tố khác nữa để tương hỗ, hình thành nên các hợp chất sinh học và các bộ phận có các chức năng riêng biệt và tác động qua lại để tạo thành sự sống một cách rất phức tạp.
Mặc dù số lượng các nguyên tố cây cần thì nhiều nhưng thường chỉ bón một số loại phân NPK cũng vẫn đáp ứng được nhu cầu phân bón cho cây vì trong đất thường có sẵn tất cả các nguyên tố dinh dưỡng này. Khi bón phân NPK tức là bón những nguyên tố thiếu hụt nhiều nhất, còn các nguyên tố khác thì cây trực tiếp khai thác từ đất.
Ở những đất tốt, tức đất có chứa nhiều các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây, thì việc bón phân ít quan trọng. Ở những đất này có thể chỉ cần bón một mình phân đạm, hoặc chỉ bón phân NPK là đủ. Nhưng ở những đất xấu, tức là đất có chứa rất ít các nguyên tố dinh dưỡng, thì việc bón phân vô cùng quan trọng. Ở những đất này, ngoài phân NPK ra, còn phải chú ý bón các loại phân có chứa các nguyên tố dinh dưỡng khác như bón vôi để tăng hàm lượng canxi, bón phân chuồng để bổ sung nhiều loại nguyên tố dinh dưỡng khác v.v..
Trong các loại phân lân sản xuất trong nước như phân lân Super, phân lân nung chẩy cũng chứa rất nhiều các nguyên tố dinh dưỡng khác như Canxi, Magie, Lưu Huỳnh và các nguyên tố vi lượng như Fe, Cu, Zn, Mn, B v.v.. nữa. Có thể sử dụng các loại phân này như là nguồn cung cấp các nguyên tố dinh dưỡng khác ngoài phân NPK.
Ví dụ:
NPK 16-16-8-13S, trong đó có 16% N, 16% P2O5, 8% K2O và 13% S.
NPK 30-10-10 + TE thì trong đó có : 30% Đạm (N); 10% Lân (P2O5); 10% Kali (K2O); TE là trung, vi lượng bổ sung
Chỉ sử dụng phân hữu cơ thì sẽ thiếu trung, vi lượng, chính vì vậy nên kết hợp cả phân hữu cơ và vô cơ + TE.
Tuỳ giai đoạn phát triển của cây Lan mà chọn loại phân thích hợp.
Rễ ra thì mới ăn phân bón. Liều tăng dần phụ thuộc vào bộ rễ và độ phát triển của cây theo chu kỳ, loại lan ...
► CHỨC NĂNG VÀ TRIỆU CHỨNG THỪA, THIẾU HỤT DINH DƯỠNG
 A. ĐA LƯỢNG
● 1. Chất đạm(N)
- Chức năng:
+ Thúc đẩy nhanh quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, lá và cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển thân lá, sinh trưởng chiều cao và khối lượng thân lá.
+ Là hợp phần quan trọng của chất hữu cơ cấu tạo nên diệp lục tố, nguyên sinh chất, axít nucleic, Protein. Thúc đẩy sinh trưởng và phát triển của các mô sống. Cải thiện chất lượng của rau ăn lá, hạt ngũ cốc.
- Khi thiếu: cây sinh trưởng còi cọc,cành lá sinh trưởng kém, lá non nhỏ, lá già rễ rụng,bộ rễ ít pháp triển, trên lá già xuất hiện màu xanh lợt đến vàng nhạt, bắt đầu từ chóp lá, tiếp đó bị chết hoặc rụng tùy mức độ thiếu.
Khi thiếu trầm trọng số hoa bị giảm nhiều năng suất thấp, hàm lượng protein thấp.
- Khi dư: cây sinh trưởng rất mạnh, lá to màu xanh đẫm, tán lá rườm rà, lá nhiều những bộ rễ bị hạn chế mềm yếu, dễ đỗ ngã, sâu bệnh dễ phá hại…
● 2. Chất Lân (P)
- Chức năng:
+ Giữ vai trò quan trọng trong quá trình hô hấp và quang hợp, giúp việc hấp thu đạm được dễ dàng.
+ Thúc đẩy sự phát triển của bộ rễ bằng việc tăng cường quá trình tổng hợp nên nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng.
+ kích thích nẩy chồi, đẻ nhánh, thúc đẩy quá trình hình thành hoa; cây Lan trưởng thành cần tăng tỷ lệ lân để ra hoa. Ngoài ra, lân còn giữ cho hoa lâu tàn.
+ Là trung tâm trong quá trình trao đổi năng lượng và Protein của cây. Là thành phần của axít nucleic, amino axít, protein phospho – lipid, coenzim …, nhiễm sắc thể.
+ P thúc đẩy mô phân sinh phân chia nhanh tế bào, cho nên tạo điều kiện cho cây phát dục (ra hoa) thuận lợi, ra hoa sớm. Phospho giúp quá trình vận chuyển các hợp chất đồng hóa về cơ quan dự trữ được thuận lợi, vì vậy giúp lúa chín sớm, hạt mẩy, cây ăn quả mẫu mã đẹp, tăng chất lượng trái, thúc đẩy sự tổng hợp đường của mía…
- Khi thiếu:
+ Rễ phát triễn kém, không lớn, không ra chồi non, cây dễ nhiễm bệnh, lá mỏng có thể chuyển màu tím đỏ, khó ra hoa, lá mỏng có thể chuyển màu tím đỏ ;trái thường có vỏ dày, xốp và dễ hư…
+ Thiếu lân cây còi cọc, lá trưởng thành có màu xanh thẫm đến lam lục tím tía, rễ bị kìm hãm khó ra hoa. Thiếu lân trầm trọng lá có vết tím, thân mảnh, chín chậm, hạt và quả phát triển kém.
- Khi thừa: rất khó phát hiện, tuy nhiên dễ làm cho cây thiếu kẽm và đồng.
Cây bị ngộ độc lân bị chết khô và đen đầu lá, chuyển màu ở lá non và xuất hiện vết nứt gãy ở lá già.
● 3. Chất Kali: (K)
- Chức năng:
+ Kali (K) giúp Lan cứng cáp, kích thích ra chồi mới, màu hoa tươi đẹp, lâu tàn.
+ Kali giúp cây quang hợp tốt hơn khi thời tiết lạnh và mây mù, nâng cao khả năng chống rét và các điều kiện bất lợi khác của cây. Giúp cho tăng độ lớn của hạt và cải thiện chất lượng của rau quả.
+Thúc đẩy hình thành lignin,tổng hợp đường bột xellulo làm cây cứng cáp, giúp trái lớn nhanh, hạt mẩy, tăng độ ngọt và mầu sắc trái, chống chịu tốt hơn với sâu bệnh hại.
+ Giúp tăng khả năng thẩm thấu qua màng tế bào, điều chỉnh độ pH, lượng nước ở khí khổng.
+ Hoạt hoá ezim giúp cây quang hợp tốt hơn và tổng hợp Hydrat carbon. Giúp vận chuyển Hydrat carbon, tổng hợp protein.
+ Tăng tỷ lệ hạt chắc, hạn chế rụng quả, tăng độ lớn của quả, củ, tăng năng suất, độ ngọt và chất lượng nông sản.
- Khi thiếu:
+ Ban đầu đỉnh lá già bị cháy;thiếu nặng, phần lớn lá bị cháy và rụng đi; cây bị úa vàng dọc mép lá, chóp lá chuyển màu nâu, các triệu chứng lan dần vào phía trong, từ chóp lá trở xuống, từ mép lá trở vào. Cây phát triển chậm, còi cọc, thân yếu dễ bị đổ ngã.
- Khi thừa:
+ Cũng khó nhận diện, tuy nhiên trên cam khi bón kali nhiều quá trái trở nên sần sùi.
 B. TRUNG LƯỢNG
Nhóm nguyên tố trung lượng là những chất dinh dưỡng khoáng thiết yếu được cây trồng hút với số lượng từ hàng chục đến hàng trăm kg/ha gốm:
● 4. Chất Canxi(Ca):
Cần thiết cho sự phân chia tế bào cây trồng được bình thường. Thêm vào đó canxi có vai trò như một chất giải độc bằng cách trung hòa acid hữu cơ, tăng cường khả năng hút đạm và tăng tính chống chịu một số loại sâu bệnh của cây trồng. Đất chua hoặc đất kiềm mặn thường thiếu canxi. Ngoài ra, đất đồi dốc rửa trôi nhiều nhưng không bón vôi cũng có thể thiếu canxi. Một số loại phân có chứa canxi như Dolomit, thạch cao, vôi...
-Khi thiếu: Lá và đọt non dễ bị cong queo và nhỏ, mép lá không đều, các lá non bị biến dạng hình thành đài hoa và quăn màu xanh lụa không bình thường, các chồi ngọn bị suy thoái chết ngọn, rễ yếu, cổ rễ thường thối gãy, chồi và hoa rụng sớm, thân yếu, năng suất, chất lượng thấp.
- Không có triệu chứng dư, tuy nhiên khi lượng canxi cao thường gây thiếu: B, Mn, Fe, Zn, Bo
● 5. Chất lưu huỳnh(S);
Là thành phần của các axit amin tạo mùi thơm, protein, các vitamin B8 (biotin), B1 (thiamin), và các Coenzyme A giúp cho cấu trúc Protein được vững chắc.  Lưu huỳnh có ý nghĩa trong việc nâng cao chất lượng nông sản như tăng mùi thơm cho cà phê, trái cây, tăng hàm lượng dầu cho cây cọ dầu, đậu phộng… Một số loại phân có chứa lưu huỳnh thường dùng cho cây trồng như SA, phân NPK 16-16-8+9S + TE, phân NPK 17-7-17+9S+TE, Magiê sunfat (MgSO4)…...
Khi thiếu, triệu chứng thể hiện giống như thiếu chất đạm; các lá non chuyển vàng hoặc vàng lợt, lá nhỏ, vàng đều, rụng sớm, chồi ngọn chết (thiếu lưu huỳnh lá vàng từ ngọn xuống còn thiếu đạm thì vàng từ lá già lên)
Sinh trưởng của chồi bị hạn chế, ảnh hưởng đến số hoa. Thân cứng, nhỏ và hoá gỗ sớm.
● 6. Chất Ma-nhê (Mg):
Là thành phần cấu tạo của diệp lục tố (chất tạo màu xanh của lá cây),  có vai trò quan trọng trong quang hợp và giúp cho cây hút lân dễ dàng, đồng thời làm cho sự vận chuyển lân và chất đường trong cây diễn ra nhanh hơn.
Mg là hoạt chất của hệ ezim gắn liền với sự chuyển hoá hydratcarbon và tổng hợp axit nucleic.
Đất nhẹ thường nghèo Mg và các loại đất bón phân kali hoặc super photphat nhiều năm thì hiện tượng thiếu Mg là phổ biến.
Có thể bổ sung Mg cho cây trồng bằng các loại phân tác dụng nhanh như Magiê Sunfat (MgSO4), Magiê kali sunfat (2MgSO4.K2SO4), phân hóa học có chứa Magiê....
 -Nếu thiếu:
+ lá trở nên nhỏ, xuất hiện những vùng sáng giữa những gân lá, lá bị rụng sớm, vàng lá gân xanh ở các lá già, lá già ở thời kỳ cuối, mép lá cong lên. Một số loại rau có các điểm vàng lợt đến da cam, đỏ hoặc tía.
+ hoa ra ít, rễ kém phát triển,  Thân yếu dễ bị nấm bệnh tấn công.
-Nếu thừa: lá bị đổi dạng thường cuốn theo hình xoắn ốc và rụng…
 C. VI LƯỢNG
Nhóm nguyên tố vi lượng là những chất dinh dưỡng khoáng thiết yếu được cây trồng hút với số lượng khá ít, gồm:... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/bo-sung-chat-trung-vi-luong-sieu-vi-luong-cho-cay-trong-post138316.html | NongNghiep.vn
● 7. Sắt (Fe):
Đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp của cây, thiếu Fe cây không thể tổng hợp diệp lục, lá bị hủy hoại. Cần thiết cho sự tổng hợp và duy trì diệp lục tố trong cây, là thành phần chủ yếu của nhiều enzim, đóng vai trò chủ yếu trong sự chuyển hoá diệp lục tố.
 Hiện tượng cây thiếu Fe thường xảy ra trên đất kiềm, đất chua có hàm lượng sắt tổng số thấp, đất nghèo hữu cơ... Ngoài ra, hàm lượng lân trong đất cao cũng làm giảm Fe hữu hiệu trong đất. Trong nông nghiệp, người ta thường sử dụng phân chuồng, phân xanh để bổ sung sắt cho đất hoặc bón phân Dr. Vi lượng (Vi lượng 07) để bổ sung sắt cho cây....
Thiếu sắt(Fe): úa vàng các lá non, đỉnh và mép lá giữ màu xanh lâu nhất. Trường hợp thiếu nặng, toàn bộ thịt và gân lá chuyển vàng và cuối cùng trở thành trắng nhợt.
● 8. Chất Bo(B):
Tăng tỷ lệ ra hoa, đậu trái; nếu thiếu Bo dễ bị thối noãn khi trổ hoa.
Đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phấn hoa, thiếu Bo hoa dễ bị rụng hoặc hạt bị lép. đối với một số cây như củ cải thiếu Bo ruột sẽ bị rỗng. Cây trồng nói chung thiếu Bo dễ bị sâu bệnh phá hại, khả năng chống chịu điều kiện bất lợi kém.
Ảnh hưởng đến hoạt động của một số enzim. Có khả năng tạo phức với các hợp chất Polyhydroxy. Tăng khả năng thấm ở màng tế bào, làm cho việc vận chuyển Hydrát carbon được dễ dàng. Cần cho quá trình tổng hợp và phân chia tế bào. Giúp điều chỉnh tỷ lệ K/Ca trong cây. Thiết yếu với sự tổng hợp protein trong cây.
Bo là nguyên tố dễ rửa trôi, vì vậy vùng có khí hậu nóng ẩm mưa nhiều thì hàm lượng B trong đất thấp hơn so với vùng khô hạn và bán khô hạn. Đất chua phát triển trên đá phún xuất, đất có kết cấu thô hàm lượng hữu cơ thấp, đất phát triển trên đá vôi thường nghèo B.
Bổ sung B cho cây trồng bằng các loại phân chứa B như Borax (hàn the), phân NPK+TE có chứa B, các loại phân vi lượng tổng hợp....
Thiếu Bo(B): Lá biến dạng, dày, đôi khi giòn. Hoa kém phát triển, ít đậu quả quả non hay rụng. Vỏ quả dày, lõi thường bị thâm đen, lệch tâm năng suất. Chất lượng kém.
Khi thiếu Bo phần gốc chồi bị chết khô, lá phát triển không bình thường, nửa trên của lá có màu vàng xanh ô liu hoặc xanh vàng, hoặc rụng trái non
● 9. Chất đồng(Cu):
 Ảnh hưởng đến sự tổng hợp nhiều chất dinh dưỡng của cây trồng, có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây;giúp cây tăng khả năng chịu hạn, chịu nóng, chịu lạnh…
Cu thúc đẩy chức năng hô hấp của cây, xúc tiến quá trình hình thành vitamin A, Là thành phần của men Oxydase và thành phần của nhiều enzimascorrbic, Phenolase… Đồng thời, làm tăng hiệu lực hấp thu kẽm, Mangan, Bo… Tình trạng thiếu đồng thường xảy ra ở các vùng đất cát, đất than bùn hay đất có hàm lượng hữu cơ cao và ở những vùng đất mới khai hoang hay đất chua.
Lượng đồng thiếu hụt có thể được bổ sung dễ dàng trong một thời gian dài bằng cách bón phèn xanh (CuS04.7H20) với liều lượng 10 - 25 kg/ha hoặc phun lên cây với nồng độ 0,02 - 0,05% hoặc bón các loại phân hóa học chứa TE, Super vi lượng mùa khô, ......
Thiếu đồng(Cu): ở cây ngũ cốc xuất hiện màu vàng và quăn phiến lá, số bông bị hạn chế, hạt kém phát triển, ở cây có múi chết đen ở phần mới sinh trưởng, quả có những đốm nâu, khả năng chống chịu sâu bệnh ở cây kém.
● 10. Mangan(Mn):
Làm rễ to khỏe, nẩy mầm sớm, trổ bông đều, tỷ lệ đậu trái cao, hạt chắc mẩy và làm tăng hiệu lực hút lân. Xúc tác trong một số phản ứng enzim và sinh lý trong cây, cần thiết cho quá trình hô hấp của cây. Hoạt hoá các enzim liên quan đến sự chuyển hoá đạm và sự tổng hợp diệp lục tố. Kiểm soát thể Oxy hoá – khử trong tế bào ở các pha sáng và tối.
Đất trung tính và đất kiềm có hàm lượng Mn thấp và thường xảy ra tình trạng thiếu Mn. Đất cát và đất nghèo hữu cơ thường nghèo Mn. Sử dụng phân sunphat mangan (MnSO4.5H20) chứa 24,6% Mn để xử lý hạt giống, phun lên lá, bón vào đất để bổ sung mangan cho cây trồng.
Thiếu Mangan(Mn): úa vàng gân của các lá non, đặc trưng bởi sự xuất hiện các đốm vàng và hoại tử. Xuất hiện vùng xám vàng gần cuống lá non.
● 11. Chất Kẽm (Zn):
Tăng khả năng chịu hạn, đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp và sử dụng  lân và đạm. Cây thiếu Zn giảm năng suất rõ rệt. ngoài ra còn liên quan mật thiết đến việc hình thành các chất điều hòa sinh trưởng trong cây…
Hàm lượng kẽm hữu hiệu trong đất kiềm thấp. Ở đất chua, hàm lượng kẽm hữu hiệu cao, nhưng việc bón vôi cho đất chua làm ảnh hưởng đến khả năng tan của kẽm và làm giảm lượng Zn2+ cây hút được, thêm vào đó khả năng hấp thu của CaCO3 cũng làm giảm lượng Zn2+. Mặt khác, do sự rữa trôi mạnh (nhất là ở đất cát, cát pha) và đất có hàm lượng lân hữu hiệu cao, hoặc pH đất cao… cũng làm giảm kẽm hữu hiệu.
Thiếu kẽm(Zn): Các lá non nhỏ, biến dạng, mọc xít nhau, chuyển vàng trắng và xù ra. Số hoa, quả giảm mạnh, năng suất, chất lượng thấp.
● 12. Molipden(Mo):
Tham gia các quá trình trao đổi chất, tổng hợp chất diệp lục…Đặc biệt đối với cây họ đậu nếu thiếu Mo;cây phát triển kém, nốt sần giảm, hạn chế sự cố định đạm tự do
Xúc tác trong quá trình cố định và sử dụng đạm của cây là thành phần của men khử nitrat và men nitrogense. Cần thiết cho vi khuẩn cố định đạm cộng sinh ở nốt sần cây họ đậu.
Trong đất, đặc biệt đất chua, molyden bị hấp thu mạnh bởi các oxít và hydroxít sắt điều này làm giảm lượng molyden hữu hiệu cho cây trồng. Molyden có mặt trong thành phần các hợp chất hữu cơ.
Thiếu Molyden(Mo): Đốm vàng ở gân giữa của các lá dưới, tiếp đó là hoại tử mép lá và lá bị gập nếp lại. ở rau, các mô lá bị héo, chỉ còn lại gân giữa của lá và một vài miếng phiến lá nhỏ. Thiếu Molypden thấy rõ ở cây họ đậu.
● 13. Clo(Cl):
Kích thích sự hoạt động của một số enzim, tham gia vào các phản ứng chuyển hóa hydrat carbon và năng lượng trong cây, hoạt hóa các men, vận chuyển của canxi, magiê, kali trong cây; tăng khả năng giữ nước của mô thực vật, kiểm soát sự thoát hơi nước của cây.
Nguyên tố vi lượng đặc biệt quan trọng với cây cọ dầu và dừa.
Đất cát bị rửa trôi nhiều thường nghèo Clo, nhưng đất mặn và kiềm thường giàu Clo. Trong thực tế, phân KCl được sử dụng phổ biến nên hiện tượng thiếu Clo là rất hiếm gặp. Tuy nhiên, cần chú ý sử dụng hạn chế loại phân có chứa Clo cho các loại cây trồng mẫn cảm với Clo như sầu riêng, thuốc lá, khoai tây......
Thiếu Clo(Cl): Héo chóp lá non, úa vàng lá sau chuyển màu đồng thau và chết khô.
● 14. Carbon(C): Là phần tử cơ bản cấu tạo nên Carbonhydrat, protein, lipit và axit nucleic
● 15. Oxy(O): Tham gia trong thành phần cấu tạo của hầu hết các chất hữu cơ trong cây.
D. SIÊU VI LƯỢNG
 là những chất dinh dưỡng khoáng thiết yếu cây trồng hút với số lượng rất rất ít, như:
● 16. Coban (Co): Rất cần cho quá trình cố định đạm không khí của vi sinh vật, cây họ đậu. Co làm tăng khả năng hút lân của cây. Co rất thích hợp với các loài cây có nhiều vitamin B12. Thiếu Co thường xảy ra ở đất thoát nước tốt, vùng đất có lượng mưa nhiều, đất kiềm và đất thường xuyên bón vôi. Loại phân được sử dụng rộng rãi và phổ biến để bổ sung Co là Coban sunfat (CoSO4.7H2O) có chứa 21% Co. Cũng có thể sử dụng Super vi lượng mùa khô, Super vi lượng tổng hợp để bổ sung Co cho cây trồng.
●17 Niken (Ni): Cần thiết cho quá trình trao đổi chất của cây; quá trình cố định đạm của cây họ đậu; sự phát triển chiều cao và sự nảy mầm của các cây ngũ cốc và giúp cây trồng tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh. Ni thường tích lũy ở tầng mặt đất nơi có hàm lượng hữu cơ cao. Ni rất cần thiết cho cây trồng và động vật, tuy nhiên nếu nồng độ quá cao sẽ gây ngộ độc (nồng độ Ni trong không khí > 20-200ng/m3). Sử dụng niken sunfat (NiSO4) bón vào đất với lượng 0,05 g/cây đối với nho trước khi ra hoa đã làm tăng độ lớn quả và tăng năng suất 23% so với đối chứng (Dobroljubskij và cộng sự).
●18. Selen (Se): Có liên quan đến sự tăng trưởng ở một số loại thực vật có tích lũy selen. Các nhà khoa học đã SX thành công một loại phân bón làm tăng hàm lượng selen trong lúa mì. Phân chứa Selen thường được sử dụng nhất là natri selenat. Ngoài ra, các nguồn khác có thể sử dụng là natri selenit, selen nguyên tố, bụi selen (6% Se). ...
Ảnh hưởng của sự thiếu hụt đa nguyên tố:   Sinh trưởng và phát triển của cây có thể bị ảnh hưởng bởi tương tác giữa hai hay nhiều chất dinh dưỡng, do vậy, sự thiếu hụt đồng thời nhiều chất có thể xảy ra cùng một lúc. Sự thiếu hụt đa nguyên tố này có thể xảy ra trong trường hợp đất cung cấp không đủ một vài nguyên tố hoặc do bón phân mất cân đối nghiêm trọng (chỉ bón đạm, lân, kali mà không bón các nguyên tố trung và vi lượng …). ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây.Khi xuất hiện triệu chứng thiếu hụt dinh dưỡng, trước hết chúng ta cần phải xác định xem sự thiếu hụt là đơn hay đa nguyên tố từ đó mới xác định được nguyên tố cần bón và lượng bón thích hợp. Vì vậy, bón phân cân đối và hợp lý là yếu tố cần thiết nhằm đảm bảo cho cây trồng cho năng suất và chất lượng tốt nhất
█ IV. MỘT SỐ LƯU Ý:
4.1 Nguyên tắc chung bón phân:
- Khi cây Lan còn nhỏ phải dùng loại phân có tỷ lệ đạm  cao để giúp cây tăng trưởng mạnh tích dưỡng chất mập thân VD: NPK 30-10-10 + TE.
- Cây đã trưởng thành dùng loại phân có tỷ lệ NPK đều VD: 20-20-20 +TE
- Tiết trời ngoài Bắc trở lạnh thì sử dụng phân có tỉ lệ Kali (K) cao để giúp cây cứng cáp tăng khả năng chịu đựng, chống lạnh.
- Chu kỳ cuối chu kỳ sinh trưởng thì tăng thời gian quang kỳ, bổ sung phân có tỉ lệ P (Lân) cao để tích dưỡng chất đảm bảo cho kỳ ra hoa
- Khi cây chớm ra hoa thì dùng loại phân có tỷ lệ P,K cao để hoa thêm rực rỡ, lâu tàn.
- Nitrogene  cần cho lá và mầm non cũng như thân cây lan. Nếu thiếu cây sẽ cằn cỗi, èo uột, lá cây vàng vọt không xanh tươi. Nếu bón nhiều lá sẽ xanh ngắt, cây sẽ mềm yếu dễ bị bệnh, bị gẫy và khó ra hoa.
- Phosphorous hay Phosphate (P) cần cho rễ mọc mạnh, ra nhiều hoa. Nếu thiếu cây sẽ yếu đuối, mầm cây và rễ chậm phát triển và chậm ra hoa và ít hoa. Nếu bón quá nhiều cây sẽ ra hoa sớm, cây chóng già, lá sẽ ngắn lại.
- (K) cần cho thân rễ, giúp cho cây hấp thụ chất N, và vận chuyển nhựa cây dễ dàng từ rễ tới lá. Nếu thiếu cây sẽ không được cứng cáp và ít hoa, nhưng nếu quá nhiều, cây sẽ cằn cỗi, ngọn héo rũ, đầu lá già sẽ bị cháy.
► 4.2 Lưu ý khi phun phân thuốc:
- Lá ngoài chức năng quang hợp còn có vai trò thoát hơi nước qua hệ thống khí khổng, đó là những lỗ nhỏ li ti nằm phần lớn ở mặt dưới lá và cũng chính nơi đây mới có điều kiện hấp thu phân qua lá. Do đó khi sử dụng phân phun qua lá cần phải phun tập trung ở mặt dưới lá.
- Phân bón lá thì phải phun vào lúc trời mát, khoảng 8–10 giờ sáng hoặc 15–17 giờ chiều, thì lúc đó cây mới không bị cháy lá, hấp thu tối đa lượng phân được phun…
- Thuốc phòng trừ bệnh thì phun buổi chiều tối .
- Nếu tưới phân hoá học gốc muối thì sau 2 tiếng phải rửa trôi phân . Phân hữu cơ không phải rửa phân .
- Tưới phân không được tưới đi tưới lại , chỉ lướt qua 1 lượt đảm bảo ướt rễ, mặt trước và mặt sau lá.
- Cây trưởng thành thì cần nhiều phân bón hơn cây con, nên ta tăng dần nồng độ cho đến khi cuối kỳ sinh trưởng.
- Khi đa thân hoàng thảo rụng lá thì giảm dần nồng độ, tới khi cây nghỉ trút toàn bộ lá thì cũng dừng phân thuốc luôn
- Khi mắt hoa bắt đầu sưng lên thì nên giảm hoặc ngừng hẳn phân.
- Phân bón nên phun khi nhiệt độ ko quá nóng, ko quá lạnh, nên là từ 22-26 độ. Nước tưới thì biên độ có thể rộng hơn từ 16-30 độ ( thời tiết cực đoan cũng ko nên dùng phân) Vì độ mở khí khổng phụ thuộc vào nhiệt độ, cường độ ánh sáng, tốc độ gió, độ ẩm tiểu khí hậu. 
Cây nhận được phân qua hệ thống lông hút của rễ, mà hệ thống lông hút lại tập trung ở gần đầu chóp rễ và tồn tại không quá 24 tiếng do quy luật phát triển của cả hệ thống rễ
 4.3 Lưu ý sử dụng phân bón qua lá:
 Bón qua lá tốt nhất khi bón bổ sung hoặc bón thúc nhằm đáp ứng nhanh yêu cầu dinh dưỡng của cây, hòa loảng phân theo đúng tỷ lệ trên bao bì;nhiệt độ quá cao, đất bị khô hạn nặng không nên dùng phân bón lá vì dễ làm rụng lá. Không sử dụng phân bón lá lúc cây đang ra hoa, lúc trời nắng vì sẽ làm rụng hoa trái và làm giảm hiệu lực phân
Không nên nhầm lẫn giữa phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng, nếu trong phân bón lá có chất kích thích sinh trưởng thì trong phân này đã có chất dinh dưỡng, nếu chỉ dùng kích thích sinh trưởng thì phải bổ sung thêm dinh dưỡng để cây tăng trưởng tương ứng với sự kích thích đó.

Phổ biến trong tuần

Hoa Lan